Tap Chi

Only available on StudyMode
  • Pages : 9 (4308 words )
  • Download(s) : 976
  • Published : February 4, 2009
Open Document
Text Preview
Hệ số nhân tiền qua khái niệm tiền cơ sở khả dụngvà một số mô hình phản ánh tác động của lãi suất. ThS. Bùi Duy Phú
1. Xây dựng mô hình hệ số nhân tiền
Về phương diện tổng quát, vấn đề cung tiền như là kết quả của tiền cơ sở, tỷ lệ tiền mặt, tỷ lệ dự trữ và tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn đã được nhiều nghiên cứu khác nhau đề cập đến. Mô hình xác định hệ số nhân tiền m1 và m2 liên quan tới khối lượng tiền cung ứng M1 và M2 đã được xây dựng ([1]). Trong các công thức đó chưa cho thấy khả năng dịch chuyển thay đổi của các khoản nợ từ dạng này sang dạng khác (tức là từ tiền gửi có kỳ hạn sang tiền gửi không kỳ hạn và ngược lại). Đồng thời lượng tiền dự trữ vượt trội của các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng chưa được phản ánh trong các mô hình. Từ đó, đòi hỏi chúng ta xây dựng một mô hình hoàn chỉnh hơn. Một số yếu tố cần thiết trong việc xác định hệ số nhân tiền. Thứ nhất, chúng ta bám sát M1 để phân tích vì tiền hẹp bao gồm tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn (ở các NHTM) và các khoản nợ khác. Thứ hai, chúng ta đưa ra “tính khả dụng” hơn là khái niệm “mức độ” của tiền cơ sở (tiền có quyền lực cao) cho phân tích cung tiền. Chúng ta đi từ tính có quyền lực cao (High Powered Money) của lượng tiền dự trữ (tiền cơ sở) theo luật định của các NHTM đến tính khả dụng (Disposable High Powered Money) của nó (chúng ta ký hiệu là DH: tiền cơ sở khả dụng hay tiền có quyền lực cao khả dụng). Thứ ba, khi các NHTM đòi hỏi được nắm giữ lượng dự trữ, một phần của tiền cơ sở sẽ bị phong toả. Từ đó, chúng ta đưa tỷ lệ dự trữ vượt trội mà các NHTM nắm giữ vào trong mô hình để xem xét tác động của tỷ lệ này. Thứ tư, chúng ta xem xét thành phần “các khoản tiền gửi khác” trong hệ thống ngân hàng như là một thực thể riêng biệt trong phân tích cung tiền. Mô hình hệ số nhân tiền của cung tiền có thể xuất phát từ tính khả dụng của tiền cơ sở. Khi đó, cung của tiền cơ sở khả dụng (DHS) được xác định DHd = Cd + ERd + ODd, trong đó ER là dự trữ vượt trội (Excess Reserves) của các NHTM, OD là các khoản nợ khác (Other Deposits). Vế phải của đẳng thức bao gồm ba bộ phận. Cầu cho tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn có quan hệ cao và được chỉ định dưới dạng Cd = k. DD, trong đó DD (Demand Deposit) là tiền gửi không kỳ hạn, k là tỷ lệ hành vi ảnh hưởng bởi các nhân tố cấu trúc, nhân tố tổ chức và kinh tế khác nhau. Cầu cho dự trữ vượt trội (ERd) về phía các NHTM phát sinh và có thể được đưa vào như là một hàm tăng của tổng tiền gửi tại các NHTM có dạng: ERd = r. D

trong đó r là tỷ lệ dự trữ vượt trội, D (Total Deposits) là tổng tiền gửi tại các NHTM. Sự phân chia tổng tiền gửi giữa tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiền gửi khác được quyết định do công chúng. Giả sử công chúng yêu cầu tiền gửi có kỳ hạn như là một phần tỷ lệ chắc chắn của tiền gửi không kỳ hạn, chúng ta có thể chỉ định:TDd = t.DD Khi đó: ERd = r. D = r.(DD + TD) = r. (1+t).DD

Hơn nữa, giả thiết rằng các khoản tiền gửi khác OD cũng tỷ lệ với tiền gửi không kỳ hạn thì: ODd = d. DD.
Từ đó cầu cho tiền cơ sở khả dụng thỏa mãn DHd = Cd + ERd + ODd
Thị trường cho tiền có quyền lực cao cân bằng khi DHd = DHs ( DHs là cung của tiền cơ sở khả dụng) nên ta có: DH = DD. [ k + r.( 1 + t) + d]( [pic]
M = C + DD + OD nênĠ
khi đó thừa sốĠ[pic] là hệ số nhân tiền đi kèm với DH và như vậy, ta cóM = m.DH Những đóng góp của các thành phần khác nhau trong m được xem xét trong các đạo hàm riêng của m theo các thành phần của nó. Khi đó [pic]víi [pic]

[pic]
[pic]víi [pic]
[pic]
trong các đạo hàm ở trên,Ġ nhận giá trị âm vớiĠ vì sự tăng trong k có nghĩa là có sự thoát ra lớn của H vào trong khối lượng tiền mặt được nắm giữ bởi công chúng và hạ thấp cơ sở dự trữ của các ngân hàng thương mại để mở rộng tín dụng và tạo tiền gửi. Điều kiện [pic] còng ®­îc tho¶ m·n trong thêi kú nghiªn cøu cña chóng ta.Ġ âm vì việc nắm giữ lượng dự trữ vượt quá lượng tiền gửi có kỳ hạn sẽ làm suy yếu khối...
tracking img