Copyrights

Only available on StudyMode
  • Pages : 8 (2973 words )
  • Download(s) : 476
  • Published : April 15, 2009
Open Document
Text Preview
Thương mại Việt Nam và vấn nạn vi phạm quyền sở hữu công nghệ:

Case study và bình luận

ThS. H'' Thuý Ngọc

Trường Đại học Ngoại thương

Thương mại Việt Nam bây giờ và cách đây 10 năm đã hoàn toàn khác biệt. Sản phẩm lao động không chỉ thuần tuý là sự kết tinh của sức lao động và tư liệu sản xuất nữa. Với óc sáng tạo và bàn tay tài hoa của người thợ, sản phẩm lao động ngày càng tinh xảo và hàm chứa một phần trăm không nhỏ cái gọi là sáng tạo trí tuệ. Những sáng tạo trí tuệ này trong một doanh nghiệp tạo nên tài sản trí tuệ (intellectual property) của doanh nghiệp đó. ở những nước công nghiệp phát triển, tài sản trí tuệ chiếm khoảng 60 đến 70%[1] tổng giá trị tài sản của những doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, người dân Việt Nam nhìn chung mới chỉ hiểu rất mơ h'' về cái gọi là quyền sở hữu trí tuệ.

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền dành cho các cá nhân đối với sáng tạo của họ. Thông thường, người sáng tạo được độc quyền sử dụng sáng tạo của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Quyền sở hữu trí tuệ thường được chia làm hai lĩnh vực chính là bản quyền và sở hữu công nghiệp. Trong hai lĩnh vực trên, vấn đề về bản quyền có lẽ được dân chúng biết đến nhiều hơn. Trong khi đó, quyền sở hữu công nghiệp xa lạ với người dân và chưa được các doanh nghiệp Việt nam quan tâm đúng mức mặc dù quyền này hiện hữu trong sản phẩm kinh doanh của họ, dẫn đến những thua thiệt nhất định khi thương mại Việt Nam vươn mình ra thế giới.

I. Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam

Để đáp ứng nhu cầu phát triển không ngừng của nền kinh tế với mục tiêu gia nhập WTO, cũng như để phù hợp với Hiệp định về các vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) của WTO, Việt Nam đã có những n'' lực đáng kể trong việc xây dựng hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Theo Đ. 780 Bộ luật Dân sự, quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định

Như vậy có thể liệt kê các đối tượng sở hữu công nghiệp được nhà nước bảo hộ bao g'' m:

- sáng chế
- giải pháp hữu ích
- kiểu dáng công nghiệp
- nhãn hiệu hàng hoá
- tên gọi xuất xứ hàng hoá
- các đối tượng khác. (Bộ luật Dân sự 1995 dự phòng trong tương lai còn có những sản phẩm trí tuệ khác cần sự bảo hộ của nhà nước nên đã dành việc quy định chi tiết chúng trong các nghị định của chính phủ. VD: Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 về bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp)

Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam không bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo và các đối tượng khác mà pháp luật về sở hữu công nghiệp không được bảo hộ.

Để được Nhà nước bảo hộ, các đối tượng sở hữu công nghiệp trên phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cục sở hữu công nghiệp).

Song song với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ trong nước, Việt nam cũng rất tích cực tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này. Việt nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế như Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Hiệp ước hợp tác về sáng chế (PCT) 1970, thoả ước Madrid 1891 về đăng ký quốc tế các nhãn hiệu, v…v.

Những tưởng với một môi trường pháp lý như vậy, sở hữu trí tuệ sẽ là một khái niệm gần gũi với các doanh nhân. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Nhìn chung, nhận thức của người dân Việt nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng về sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp còn rất thấp. Có thể nhận thấy điều này qua thực ti''.n.

II. Case study...
tracking img