Teaching Methodology

Only available on StudyMode
  • Pages : 8 (4024 words )
  • Download(s) : 626
  • Published : April 8, 2011
Open Document
Text Preview
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH NGHE TÍCH CỰC VÀO GIẢNG DẠY CÁC BÀI NGHE HIỂU TRONG GIÁO TRÌNH MARKET LEADER CHO SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG – CƠ SỞ II TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.

1. Đặt vấn đề
Thực chất của việc dạy/học một ngoại ngữ là dạy/học các kiến thức ngôn ngữ và đặc biệt là các kĩ năng thực hành giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) để người học có thể sử dụng ngoại ngữ như một phương tiện giao tiếp nói hoặc viết theo nhu cầu cá nhân, xã hội-nghề nghiệp. Các kĩ năng thực hành có mối liên hệ khăng khít, hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau. Để thực hành tốt một ngoại ngữ, không thể chỉ chú trọng kĩ năng này mà coi nhẹ kĩ năng kia. Tuy nhiên, mỗi kĩ năng đều có những đặc điểm riêng biệt đòi hỏi phải tính đến và nghiên cứu kĩ lưỡng để có thể nâng cao hiệu quả chung của việc dạy/học ngoại ngữ. Ngày nay, các nhà giáo học pháp ngoại ngữ đều thống nhất rằng dạy một ngoại ngữ trước hết là phải cung cấp cho học viên những phương tiện giao tiếp bằng lời, rèn luyện cho họ kĩ năng thực hành nghe, nói trong thứ tiếng đó. Song thực trạng của việc dạy/học các môn nghe, nói thế nào? Tác giả bài viết này mong muốn trao đổi cùng đồng nghiệp một số suy nghĩ về việc dạy/học nghe hiểu nhằm góp phần nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy các bài nghe hiểu trong giáo trình Tiếng Anh thương mại Market Leader tại Trường Đại học Ngoại Thương – cơ sở II tại Tp. Hồ Chí Minh. 2. Thực trạng và một số trở ngại trong quá trình nghe hiểu Tiếng Anh đối với sinh viên Đại học Ngoại Thương tại Tp. Hồ Chí Minh Một thực tế trong việc giảng dạy các kĩ năng tiếng Anh nói chung và kĩ năng nghe hiểu nói riêng tại trường Đại học Ngoại Thương là, do những đặc thù của môn học là Tiếng Anh chuyên ngành kinh tế - thương mại, giáo viên phải dành rất nhiều thời gian trước khi lên lớp, đặc biệt là để chuẩn bị cho một bài dạy nghe và trên lớp phải tập trung chú ý hơn mức bình thường mà vẫn không cảm thấy thoả mãn về chất lượng bài dạy; còn sinh viên,nhất là các sinh viên khối A, thì rất ngại nếu không muốn nói là sợ học và thi/kiểm tra môn Nghe hiểu vì kết quả đạt được thường rất thấp. Vì sao lại có tình trạng như vậy? Do phương pháp dạy của thầy hay do phương pháp học của trò? Do đề thi/kiểm tra nghe quá khó hay do thời lượng của môn học chưa đủ? Do những nguyên nhân bên ngoài hay do những nguyên nhân bên trong môn học? Để phần nào lí giải vấn đề này, tác giả chỉ xin đề cập một số nguyên nhân nội tại của môn học. Trước hết là việc chuyển di tiêu cực của tiếng mẹ đẻ. Khi bắt đầu học ngoại ngữ, sinh viên Đại học nói chung và sinh viên Đại học Ngoại Thương nói riêng đều đă có hàng chục năm sử dụng tiếng mẹ đẻ; thói quen và kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ đã trở nên bền vững ảnh hưởng tiêu cực, gây trở ngại đến quá trình tiếp thu những tri thức mới, rèn luyện những kĩ năng thực hành mới (nghe, nói đọc viết) bằng tiếng Anh. Trên bình diện nghe hiểu, sinh viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc khu biệt nhằm mã hoá các tín hiệu ngôn ngữ mới do thói quen tri nhận các âm, điệu của tiếng mẹ lấn át. Thứ hai là sự khác biệt trên bình diện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và lời nói giữa ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn. Về mặt ngữ âm: sinh viên phải làm quen với một hệ thống âm vị mới và luyện tập để nhận biết một số âm không có trong thứ tiếng mà mình biết. Thực tế cho thấy, nếu hệ thống âm vị của ngôn ngữ đích càng khác với hệ thống âm vị của ngôn ngữ nguồn thì càng gây trở ngại cho người học trong việc làm quen và nhận diện các âm mới. Mặt khác, các yếu tố cận ngôn như trọng âm (accentuation), giai điệu (melody), ngữ điệu (intonation), nhóm nhịp điệu (rhythm group) đặc thù, đặc tính giọng nói của người phát ngôn cũng gây trở ngại đáng kể cho sinh viên trong việc nghe hiểu tiếng Anh không những ở giai đoạn cơ sở mà cả ở giai đoạn đề cao. Việc làm quen và tiếp thu các yếu tố cận ngôn đặc thù của tiếng Anh rất khó đối với người Việt, đòi hỏi người sinh viên phải luyện tập nghe thường xuyên và nỗ lực, kiên trì của giáo viên. Về mặt từ vựng: Sự khác biệt về số lượng âm tiết cấp độ từ gây trở...
tracking img