Chien Luoc Kinh Doanh

Only available on StudyMode
  • Pages : 12 (5583 words )
  • Download(s) : 532
  • Published : April 3, 2011
Open Document
Text Preview
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

Giới hạn nghiên cứu
Không gian nghiên cứu
Tập đoàn Limited Brands là một tập đoàn bán lẻ kinh doanh trong lĩnh vực thời trang hàng đầu nước Mỹ, xuất hiện lần đầu tiên tại bang Columbus, Ohio và đây cũng là nơi đặt trụ sở chính của công ty. Vì lý do này, chúng em chon thị trường Mỹ làm thị trường chính để nghiên cứu môi trường bên ngoài của công ty. Lĩnh vực, ngành

Lĩnh vực ngành bán lẻ
Khoảng Thời gian nghiên cứu:
Thị trường kinh doanh doanh thời trang bán lẻ là thị trường khá năng động và nhạy cảm do thị trường này bị chi phối nhiều bởi các xu hướng, các phong cách, mốt, và mẫu trang phục của các ngôi sao, diễn viên. Limited Brands cũng không nằm ngoài quy luật chi phối đó. Do vậy, để thuận tiện trong việc nghiên cứu môi trường ngành, chúng em xin giới hạn chỉ trong việc nghiên cứu 10 năm trở lại (từ năm 2000 đến năm 2010). I MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU:

Môi trường kinh tế trên toàn cầu là không ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế tại khu vực Châu Á là khá cao và ổn định tạo nên những thị trường lớn và tiềm năng cho ngành bán lẻ hàng thời trang. Ở các quốc gia khác nhau đều có những quy định nhằm bảo vệ những công ty trong nước , ở các nước đang phát triển, chính phủ luôn tạo điều kiện cho các tập đoàn lớn trên thế giới đến đầu tư, điều này tạo điều kiện cho ngành bán lẻ bành trướng sang các quốc gia này. Môi trường văn hoá xã hội đóng một vai trò quan trọng khi một hãng muốn xâm nhập vào một thị trường, và ở một quốc gia thì có những văn hoá đặc trưng riêng. Vì vậy muốn thành công thì trước hết các công ty phải tìm hiểu kĩ những giá trị văn hoá đó để có những chiến lược phù hợp tại quốc gia đó. Đặc biệt là sự khác nhau giữa hai nền văn hoá phương Tây và phương Đông. II. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ:

1. Môi trường kinh tế:
a. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế
Sau đợt suy thoái nhẹ từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2001, kinh tế Mỹ bắt đầu tăng trưởng với tốc độ trung bình là 2,9% trong giai đoạn từ 2002 đến 2006. Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của Mỹ vào tháng 7/2009 là -1,8%. Bộ Thương mại Mỹ cuối tuần qua công bố báo cáo cho biết, trong quý 2/2010, tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã giảm xuống 1,6% so với mức 3,7% trong quý 1. Trong năm 2009, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã bật thêm 2,4%. Tính đến tháng 5/2010, thâm hụt thương mại Mỹ ở mức 475 tỷ USD, cao hơn con số 374,9 tỷ USD tính cho cả năm 2009 – thời kỳ đỉnh cao của khủng hoảng tài chính. b. Lạm phát

Trong thập kỷ qua, người Mỹ đã luôn tin rằng lạm phát là một vấn đề luôn được quan tâm. Khoảng một phần ba số doanh nghiệp lớn và trung bình ở Mỹ đã báo cáo rằng giá cả ngày càng tăng nhanh chóng trong thập kỷ này, đặc biệt khi giá xăng dầu đạt đỉnh điểm vào năm 2008. Tốc độ tăng giá tiêu dùng năm 2006 chỉ có 1,9%, năm 2007 đã tăng lên 3,4% và cao hơn nhiều trong năm 2008. Trong tháng 5/2008, tỷ lệ lạm phát của Mỹ (so với cùng kỳ năm trước) là 4,18%, trong đó tỷ lệ lạm phát trừ lương thực và năng lượng (core rate) là 2,3%. Như vậy, tỷ lệ lạm phát ở Mỹ khá cao, và có xu hướng thay đổi nhiều vì thế nền kinh tế của mỹ tương đối bất ổn, rủi ro lớn hơn, tạo nên những thách thức trong hoạt động kinh doanh. c. Lãi suất

Chu kỳ tăng trưởng của kinh tế tư bản trong thời đại chu kỳ thay đổi thiết bị, kỹ thuật - công nghệ ngày nay cứ khoảng 5-6 năm lại bước vào suy thoái. Cuộc suy thoái lần trước của kinh tế Mỹ rơi vào năm 2001 và thời kỳ tăng trưởng cũng đã kéo dài được 5-6 năm. Để chống suy thoái và kích thích tăng trưởng kinh tế sau cuộc suy thoái năm 2001, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã 11 lần liên tục giảm lãi suất từ 6,75% xuống 1%. Mức lãi suất ở thị trường Mỹ trong những năm gần đây rất thấp, đặc biệt Cục dự trữ Liên bang sẽ buộc phải duy trì mức lãi suất gần 0% chí ít đến cuối quý tư năm 2009, điều này đem đến cơ hội cho các công ty trong ngành vì việc duy trì mức lãi suất thấp sẽ gia tăng vay ngân hàng, và chi tiêu hơn là gởi tiền vào ngân hàng. Hơn nữa mức lãi suất...
tracking img